🚀 TIỀM NĂNG ĐƯỢC KỲ VỌNG Ở VNM
1 Kỳ vọng tăng trưởng từ xuất khẩu
📊 Cập nhật kết quả kinh doanh:

❖ Kết quả kinh doanh Q3/2025

Doanh thu Q3/2025 đạt 16,953 tỷ VND (~650 triệu USD, +9.1% YoY) và lợi nhuận sau thuế đạt 2,511 tỷ VND (+4.5% YoY) đánh dấu quý đầu tiên lợi nhuận phục hồi sau 4 quý suy giảm liên tiếp – đây cũng là mức doanh thu quý cao nhất trong lịch sử.

 
Xét về doanh thu: mức độ tăng trưởng doanh thu từ kênh xuất khẩu tăng thêm 644 tỷ VND (+46.9% YoY), ngược lại doanh thu đến từ kênh nội địa (chiếm ~80% tỷ trọng doanh thu) chỉ tăng thêm 566 tỷ VND (+4.4% YoY) - trong đó một phần tăng trưởng nội địa nhờ mức nền thấp trong Q3/2024 do ảnh hưởng từ bão Yagi đã gây sụt giảm 300 tỷ doanh thu YoY.
 
Xét về lợi nhuận: Do chịu ảnh hưởng bởi khoản lỗ từ bất thường từ công ty liên kết phát sinh trong quý liên quan đến phần trích lập 100% khoản đầu tư với giả định giá trị thu hồi bằng 0 (giá trị khoản đầu tư tại đầu năm là khoảng 220 tỷ đồng) cho khoản đầu tư vào Miraka Holding tại New Zealand do có nhu cầu đàm phán thoái vốn khiến LNST chỉ đạt 2.526 tỷ đồng. Nếu loại trừ khoản này, LNST có thể gần 2.700 tỷ đồng (xấp xỉ +13% svck).
Mô tả hình 1
Mô tả hình 2

❖ Kết quả kinh doanh 9T/2025

Luỹ kế 9T.2025, Doanh thu đạt 46,6 nghìn tỷ đồng (+0,7% YoY) và LNST đạt 6.570 tỷ đồng (-9,6% yoy). Công ty đã hoàn thành 72% kế hoạch doanh thu và 68% kế hoạch lợi nhuận năm.

Trong đó, doanh thu nội địa giảm -2,2% YoY và doanh thu nước ngoài tăng +13,7% YoY. Về lợi nhuận sau thuế, VNM đã duy trì được đà hồi phục tốt trong hai quý liên tiếp sau Quý 1 sụt giảm mạnh trước đó dưới ảnh hưởng của việc tái cấu trúc. Tuy nhiên LNST vẫn đang giảm so với 9T/2024 do ảnh hưởng từ kết quả kém khả quan trong Q1.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)
🌍 Kỳ vọng xuất khẩu là động lực tăng trưởng

Năm 2024, tổng doanh thu từ thị trường nước ngoài của Vinamilk trong cả năm đạt 10.983 tỷ đồng, tăng trưởng 12,6% so với cùng kỳ (tương ứng chiếm 17,76% tổng doanh thu), đánh dấu mức tăng cao nhất trong 5 năm gần đây. Trong đó, Doanh thu từ xuất khẩu trực tiếp (không bao gồm doanh thu từ các công ty con nước ngoài) ghi nhận đạt 5.664 tỷ đồng, tăng 12,4% so với cùng kỳ.

Quý 3/2025, công ty tiếp tục duy trì mức tăng trưởng hai chữ số (đặc biệt với việc lần đầu tiên đưa sản phẩm sữa đặc vào thị trường Châu Âu) với doanh thu nước ngoài đạt 3.459 tỷ đồng (+32,6% YoY và +11,2% QoQ) (+25,7% nếu loại trừ tác động tỷ giá).

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Xuất khẩu vẫn là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng tại khu vực nước ngoài. Cụ thể, xuất khẩu đạt 2.019 tỷ đồng (+46,8% svck) và doanh thu từ các chi nhánh nước ngoài đạt 1.440 tỷ đồng (+11,3% svck).

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Với mức tăng trưởng trên hai con số từ mảng xuất khẩu, kỳ vọng thị trường xuất khẩu là động lực giúp VNM tăng trưởng trong thời gian tới.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)
Động lực tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu đến từ các thị trường châu Á và châu Phi
 
Sự phục hồi mạnh mẽ từ thị trường Trung Đông (Thị trường chủ lực) chiếm khoảng 70% - 75% doanh thu xuất khẩu trực tiếp do dồn nén đơn hàng sau giai đoạn khủng hoảng Biển Đỏ 2023-2024 (khiến chi phí vận tải sang Trung Đông tăng vọt và thời gian giao hàng kéo dài do tàu phải đi vòng qua Mũi Hảo Vọng). Sự ổn định của nhu cầu sữa bột tại Iraq – nơi thương hiệu Dielac nắm giữ 80% thị phần chính là "bàn đạp" quan trọng, giúp Vinamilk duy trì quy mô doanh thu lớn và tạo dòng tiền ổn định để đầu tư mở rộng sang các khu vực mới.
 
Ở thị trường Châu Á, sữa đặc Ngôi Sao Phương Nam cũng được cấp phép xuất khẩu vào Trung Quốc sau khi Sữa Ông Thọ mở đường vào năm 2021 cho thấy sau thành công vượt qua tiêu chuẩn khắt khe và xuất hiện trên kệ siêu thị của Trung Quốc đã giúp người tiêu dùng nước bạn tin tưởng vào các dòng sản phẩm khác của Vinamilk. Với sữa đặc Ngôi Sao Phương Nam Vinamilk đang muốn đánh mạnh vào phân khúc HORECA (Nhà hàng, Khách sạn, Cà phê) tại Trung Quốc, chứ không chỉ dừng lại ở bán lẻ cho người tiêu dùng gia đình như phân khúc sản phẩm cao cấp sữa Ông Thọ.
 
Đáng chú ý là thị trường Campuchia với quy mô 18 triệu dân – hoạt động của Angkor Milk (công ty con của VNM tại Campuchia) cũng cải thiện sau khi Bộ Công thương đã phê duyệt Đề án đẩy mạnh phát triển thương mại biên giới. Đặc biệt, trong bối cảnh xung đột biên giới giữa Campuchia và Thái Lan (do Campuchia trước đây phụ thuộc rất lớn vào hàng nhập khẩu từ Thái Lan - đặc biệt là sữa), Vinamilk đã tận dụng cơ hội để gia tăng xuất khẩu. Bên cạnh đó, Công ty đã tận dụng tốt cơ hội để cùng Angkor Milk khai thác hiệu quả thị trường Campuchia khi Angkor Milk có kế hoạch xây dựng một trang trại nuôi bò sữa với quy mô 2000 con trong năm 2026 - dự án hiện đã được Chính phủ Campuchia phê duyệt chủ trương đầu tư, và đang lên kế hoạch nâng công suất sản xuất lên 90 triệu lít sữa mỗi năm, đáp ứng nhu cầu sữa ngày càng tăng của Campuchia.
Mô tả hình 1
Mô tả hình 2
2 Kỳ vọng tăng biên lợi nhuận với những nỗ lực liên tục của doanh nghiệp
🏪 Mở rộng kênh phân phối - doanh thu nội địa được cải thiện

Mối quan tâm chính của nhà đầu tư nằm ở doanh thu nội địa của VNM, khi thị trường này chiếm khoảng 80% tổng doanh thu nhưng đã sụt giảm doanh thu 5 quý liên tiếp từ Q4/23 – Q4/24.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Tuy nhiên, trong quý Q3/2025, doanh thu nội địa tăng 4,4% svck lên 13,5 nghìn tỷ đồng (mặc dù chưa tăng so với quý trước nhưng là quý thứ hai tiếp tục ghi nhận tăng trưởng Dương liên tiếp so với cùng kỳ) nhờ mở rộng hệ thống cửa hàng Vinamilk và kênh hiện đại cải thiện mạnh. Sự phục hồi vẫn tới từ doanh thu nội địa công ty mẹ với 12.227 tỷ đồng (+5,3% YoY) trong khi Mộc Châu Milk doanh thu tiếp tục suy giảm 3,2% YoY đạt 716 tỷ đồng.

Mô tả hình 1
Mô tả hình 2

Trong 9 tháng đầu năm, Vinamilk đã cơ bản hoàn thành tái cấu trúc toàn diện kênh bán hàng, kênh cửa hàng hiện đại với thương hiệu riêng. Các cửa hàng bán lẻ Vinamilk ghi nhận tăng trưởng hai chữ số bất chấp thị trường bán lẻ còn nhiều biến động, trong khi kênh hiện đại cũng đạt mức tăng trưởng hai chữ số, bù đắp cho kênh truyền thống.

🆕 Phát triển mã sản phẩm mới - Kỳ vọng tăng trưởng doanh thu

Các sản phẩm mới và các sản phẩm ngoài ngành sữa có thể sẽ là động lực tăng trưởng cho VNM trong thời gian tới. Ban lãnh đạo cho biết, doanh số bình quân hàng tháng của các sản phẩm mới trong 9T2025 tăng gấp 8 lần svck, riêng quý 3 tăng tới 12 lần svck. Doanh thu dòng sản phẩm Green Farm cũng tăng gấp 3 lần so với năm trước.

VNM liên tục ra mắt các sản phẩm mới như trà Kombucha HayDay, sữa đậu nành mè đen, sữa yến mạch. Các sản phẩm sữa thực vật mới kỳ vọng sẽ hỗ trợ tăng trưởng của ngành hàng sữa thực vật, vốn đã đạt mức tăng trưởng tốt trong những năm gần đây với xu hướng tiêu dùng mới đến từ nhu cầu ăn uống lành mạnh cùng những lo ngại về môi trường.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Bên cạnh đó, VNM cũng đang tập trung vào phân khúc dinh dưỡng cho người cao tuổi do dân số đang già hóa nhanh chóng và tỷ lệ sinh giảm, phân khúc này kỳ vọng sẽ mang lại cơ hội phát triển cho VNM trong thời gian tới. Công ty tập trung vào ba phân khúc chính: Dinh dưỡng toàn diện, Cơ xương khớp, và Tiểu đường. VNM có lợi thế cạnh tranh về giá với giá bán thấp hơn đối thủ cạnh tranh quốc tế khoảng 35%. Ngoài ra, Công ty tiếp tục phát triển các sản phẩm cao đạm do xu hướng toàn cầu này đang phát triển tại Việt Nam và mang lại tiềm năng tăng trưởng đáng kể, bao gồm sữa thực vật cao đạm, sữa tươi cao đạm Green Farm Ultra Filtration, sữa chua cao đạm.

Ngoài ra, các sản phẩm mới thành công như kem Gelato và sữa tươi giàu protein sẽ được triển khai rộng rãi hơn trong quý 3 và quý 4, dự kiến sẽ đóng góp đáng kể vào tăng trưởng trong nửa cuối năm và trong năm tới.

Bên cạnh đó, MCM đã giới thiệu thương hiệu cao cấp là Mộc Châu Creamery trong T7.2025. Các sản phẩm dự kiến được phân phối dưới thương hiệu Mộc Châu Creamery bao gồm sữa tươi tiệt trùng và sữa chua ăn, kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường thông qua việc cao cấp hoá danh mục sản phẩm.

📱 Chiến lược marketing hiệu quả, chuyển đổi số - Giảm chi phí hoạt động

Vinamilk đã hoàn thành thay đổi nhận diện bao bì cho toàn bộ danh mục sản phẩm, và đang tiếp tục cải thiện kênh phân phối. Hiện tại, kênh GT vẫn chiếm hơn 70% doanh thu nội địa, do đó công ty vẫn phải tập trung đầu tư vào kênh truyền thống. Kênh MT đóng góp gần 20% doanh thu. Mặc dù chi phí vận hành kênh MT cao hơn kênh GT, nhưng VNM bán các sản phẩm có biên lợi nhuận cao hơn qua kênh MT giúp bù đắp chi phí và duy trì biên lợi nhuận tương đương kênh GT.

kênh MT là các điểm bán hàng có hệ thống quản lý hiện đại, bao gồm:
  • Siêu thị/Đại siêu thị: Nơi VNM có các quầy kệ lớn (Co.op Mart, BigC/GO, AEON).
  • Chuỗi cửa hàng tiện lợi (CVS): Circle K, GS25, WinMart+... (Nơi bán các hộp sữa lẻ, sữa chua uống cho người đi làm/học sinh).
  • Thương mại điện tử (E-commerce): Gian hàng chính hãng trên Shopee, Lazada, TikTok Shop và Website của chính VNM.

Bên cạnh đó, với hơn 700 cửa hàng hiên có, VNM cũng sử dụng các hệ thống cửa hàng này làm trung tâm giao nhận để phát triển kênh TMĐT bền vững. Ngoài ra, VNM đang áp dụng hệ thống AI để điều phối đơn hàng và tự động hoá quá trình kiểm soát hình ảnh giao hàng, giúp tiết kiệm chi phí vận hành 3 triệu USD/năm và đảm bảo giao hàng nhanh chóng.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Tỷ lệ Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp /Doanh thu của VNM đã cải thiện rõ rệt trong quý 3 với tỷ lệ chi phí SG&A trên doanh thu giảm -1,2 điểm phần trăm QoQ / -0,4 điểm phần trăm YoY xuống còn 23,8% trong Q3/2025 nhờ áp dụng công nghệ vào trong hoạt động giúp tối ưu chi phí vận hành.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Nếu chiến dịch marketing hiệu quả thì dự kiến tỷ lệ Chi phí SG&A/Doanh thu khả năng sẽ cao hơn năm trước do VNM đã và đang cải tạo và mở nhiều cửa hàng mới để giới thiệu sản phẩm mới. Tuy nhiên, quý 4 thường là quý có chi phí bán hàng tăng mạnh trong năm do đó chi phí SG&A dự báo khó giảm mạnh dù quá trình chuyển đổi số đang hỗ trợ cải thiện hiệu quả hoạt động. Kỳ vọng tỷ lệ Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp/Doanh thu của VNM sẽ ổn định quanh mức 25% trong năm 2025 và dao động trong khoảng 24,5% – 25% trong các năm tới.

💰 Giá đầu vào giảm - Biên lợi nhuận kỳ vọng cải thiện

BLNG quý 3 đạt 41,8% (tăng 0,6 đpt svck nhưng giảm 0,2 đpt qoq ), 9T2025 giảm -0,4 điểm phần trăm YoY xuống 41,4%. Biên lợi nhuận gộp tăng 60 điểm cơ bản svck lên 41,8%, nhờ chi phí đầu vào giảm và việc quản lí tốt chi phí vận hành. Tỷ lệ SG&A/doanh thu cải thiện 120 điểm cơ bản so với quý trước. Tuy nhiên, do VNM đang sử dụng sữa bột đầu vào giá cao từ đầu năm, vì vậy dù có tăng svck nhưng biên lợi nhuận quý 3 không cải thiện mạnh và giảm so với quý trước đó do các sản phẩm sữa công thức trẻ em và sữa xuất khẩu chủ yếu sử dụng sữa bột nhập khẩu.

Mô tả hình 1
Mô tả hình 2

Tuy nhiên giá sữa bột SMP và WMP đã giảm khá mạnh, khoảng 15 – 20% từ đỉnh hồi tháng 5 – tháng 6 và khoảng 10% so với đầu năm nguyên nhân là do nhu cầu ở Trung Quốc chậm lại cũng như dự báo sản lượng sữa tại quốc gia này tăng lên. Với việc chốt trước nguyên vật liệu từ 3-6 tháng, diễn biến của giá NVL có thể kỳ vọng cải thiện biên lợi nhuận trong Q4.2025 và Q1.2026. Đồng thời, sản lượng sữa tăng mạnh tại các khu vực như Châu Âu và New Zealand, trong khi nhu cầu nhập khẩu sữa tại Châu Á giảm do lượng hàng tồn kho lớn, theo đó giá sữa bột dự báo sẽ duy trì ở mức thấp trong thời gian tới.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Bênh cạnh đó, kỳ vọng doanh thu quý 4 vẫn sẽ duy trì tăng trưởng so với cùng kỳ nhờ động lực từ việc đa dạng hóa danh mục ngành hàng, phát triển các sản phẩm mới và đẩy mạnh các kênh hiện đại (MT).

Kỳ vọng biên lợi nhuận sẽ tiếp tục được củng cố trong Q4.2025 và Q1.2026, khi giá sữa bột đã ổn định và công ty đã chủ động mua trước toàn bộ nguyên liệu cho Q4/2025 và một phần cho Q1/2026.

Mô tả hình 1
Mô tả hình 2
📈 Yếu tố ngành: Sản lượng tiêu thụ ngành sữa hồi phục tích cực – kỳ vọng tăng doanh thu

Theo Tổng cục Thống kê, sản lượng sữa tươi cả nước đang cho tín hiệu hồi phục dù vẫn giảm svck. Luỹ kế 10T.2025, sản lượng sữa tươi ghi nhận giảm 17,4% svck, nhưng sản lượng sữa tháng 10 tăng 6,8% so với tháng trước. Đối với sữa bột, sản lượng hồi phục khá tốt. Luỹ kế 10T.2025, sản lượng sữa bột tăng 7,6% svck.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Chính phủ đã công bố các chính sách mới về thuế thu nhập cá nhân, áp dụng từ 01/01/2026, kỳ vọng sẽ thúc đẩy ngành hàng tiêu dùng từ năm 2026 như:

 
(1) Tăng mức giảm trừ gia cảnh, ước tính giúp giảm thuế thu nhập cá nhân khoảng 21 nghìn tỷ đồng hàng năm
 
(2) Kế hoạch đơn giản hoá biểu thuế, kỳ vọng sẽ giảm thuế suất ở mọi cấp thu nhập.

Theo đó, chi tiêu của người dân kỳ vọng sẽ cải thiện khi thu nhập thực tế cao hơn.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Cầu tiêu dùng vẫn chịu tác động từ sự thay đổi trong phương pháp tính thuế đối với hộ kinh doanh và ảnh hưởng của nhiều cơn bão trong tháng 9-11. Những tác động tiêu cực vẫn còn có thể tiếp diễn trong quý 4. Tuy nhiên, ban lãnh đạo cho biết doanh số tháng 10/2025 ghi nhận tăng trưởng dương.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)
3 Tiềm năng từ mảng thịt bò trong dài hạn (Dự án Vinabeef - liên doanh với Sojitz)

Ngoài mảng sữa, Vinamilk đã chính thức mở rộng sang lĩnh vực thịt bò thông qua công ty con Vilico. Theo Báo cáo thường niên 2024 của Vinamilk, doanh thu hợp nhất từ mảng thịt bò (bao gồm Vilico, Mộc Châu Milk và liên kết trong chuỗi Vinabeef) ước đạt khoảng 2,550 tỷ đồng trong năm 2024, chiếm 3.5% tổng doanh thu hợp nhất của Vinamilk. Lợi nhuận gộp của mảng này năm 2024 đạt ước tính 15%, thấp hơn biên gộp chung của Vinamilk (khoảng 41%), nhưng có tiềm năng mở rộng khi quy mô tăng và thương hiệu dần được định vị.

Dự án Quy mô Vốn đầu tư Năm dự kiến hoạt động
Tổ hợp Thiên đường sữa Mộc Châu 4,000 con bò sữa 3,150 tỷ đồng Quý 4/2025
Dự án Tổ hợp Trang trại bò sữa Lao – Jagro Giai đoạn 1 gồm 24,000 con bò sữa N/A Đã khai thác 8,000 con năm 2022
Dự án chăn nuôi và chế biến thịt bò – Vinabeef Tam Đảo giai đoạn 1 10,000 tấn sản phẩm/năm ~ 3,000 tỷ đồng Thương mại hóa vào cuối 2024

Công ty TNHH Chăn nuôi Nhật Bản Việt Nam (JVL), liên doanh giữa Sojitz và Vilico, đã đầu tư gần 3,000 tỷ đồng để thành lập và đưa vào hoạt động nhà máy chế biến thịt bò Vinabeef vào tháng 12/2024. Đây là nhà máy đầu tiên tại Việt Nam chế biến thịt bò mát trong môi trường kiểm soát và vệ sinh cao, với công suất khoảng 30,000 con gia súc mỗi năm và mục tiêu sản xuất 10,000 tấn thịt bò mỗi năm.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Q2/2025, JVL sẽ vận hành trang trại nuôi bò gần nhà máy để khép kín quy trình từ chăn nuôi đến chế biến và phân phối. Các sản phẩm Vinabeef sẽ được Công ty phân phối cho các khách sạn và nhà hàng trung bình đến cao cấp.

Năm 2024, doanh thu của JVL tăng gần 3 lần so với 2023, và sản phẩm đã vào được các chuỗi siêu thị lớn. JVL cũng phát triển các sản phẩm ready-to-eat và ready-to-cook như xúc xích, bò viên, đang được bán thử nghiệm vào một số cửa hàng kênh bán lẻ hiện đại và HORECA.

Thị trường thịt mát Việt Nam hiện còn sơ khai và đang được chia sẻ bởi một số thương hiệu lớn như Masan MEATDeli, Vissan. Với lợi thế thương hiệu, hệ thống logistics lạnh và mạng lưới phân phối rộng, Vinamilk và Vilico được kỳ vọng nhanh chóng gia tăng hiện diện trong phân khúc thịt bò mát trung – cao cấp.

Nhìn chung, bức tranh doanh thu của Vinamilk đang dịch chuyển dần từ phụ thuộc vào thị trường nội địa và ngành sữa truyền thống sang đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường quốc tế.

4 Cổ phiếu tiêu dùng phòng thủ hấp dẫn với cơ cấu tài chính lành mạnh & lợi suất cổ tức từ 6.5-7.3%/năm
💪 Cơ cấu tài chính lành mạnh

Cơ cấu tài chính của Vinamilk được coi là lành mạnh nhờ tỷ lệ đòn bẩy thấp, lượng tiền mặt lớn, khả năng thanh khoản cao, và hiệu quả sử dụng vốn tốt.

VNM sở hữu dòng tiền mạnh với số dư tiền gửi ngân hàng gần 25 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, đòn bẩy tài chính vẫn được tận dụng để tối ưu hiệu quả, chủ yếu là khoản mục vay ngắn hạn để phục vụ vốn lưu động (gần 10 nghìn tỷ đồng).

Vốn chủ sở hữu đạt trên 35 nghìn tỷ đồng, đưa tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu (D/E) ở mức 21,8%, thấp hơn mặt bằng chung ngành thực phẩm – đồ uống.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Các chỉ số hiệu quả tài chính cũng cho thấy tính lành mạnh: ROE 27.6%, ROA 18.7% tính đến 30/6/2025. Khả năng thanh khoản cũng vững chắc với hệ số thanh toán hiện hành duy trì trên 2 lần.

💎 Chính sách cổ tức hấp dẫn

Vinamilk là đơn vị duy trì chính sách cổ tức tiền mặt đều đặn kể từ năm 2006 đến nay với tỷ suất cổ tức trên 6%/năm. Ở giai đoạn 5 năm gần nhất, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh liên tục dương (trên 11 nghìn tỷ đồng năm 2024), cho phép Vinamilk duy trì việc phân phối lợi nhuận bằng tiền mặt đến cổ đông từ 3,850 - 4,500 đồng/cp mỗi năm.

Trong tài liệu họp Đại hội cổ đông vừa qua, doanh nghiệp trình cổ đông thông qua mức cổ tức cho năm 2024 là 43.5% bằng tiền, tức mỗi cổ phiếu nhận 4,350 đồng. Đây là mức cổ tức cao nhất mà Vinamilk trả cho cổ đông kể từ năm 2018 (mức 45% bằng tiền). Vinamilk cũng là một trong số ít những doanh nghiệp trên sàn chứng khoán trả cổ tức tiền mặt ở mức cao hàng năm, trên dưới 40%.

🏢 GIỚI THIỆU DOANH NGHIỆP
1. Tổng quan doanh nghiệp

Vinamilk là thương hiệu sữa lớn nhất ngành sữa Việt Nam với khoảng 40-45% thị phần. Trong đó, nổi bật nhất là các dòng sữa chua và sữa đặc chiếm tới 80-90% thị phần nội địa.

 
Công ty được thành lập năm 1976 dựa trên sự tiếp quản 3 nhà máy sữa của giai đoạn trước.
 
Năm 2006, VNM chính thức niêm yết trên sàn chứng khoán và dần trở thành doanh nghiệp thực phẩm và đồ uống lớn nhất trên HOSE.
 
Sau 48 năm hoạt động, Vinamilk giữ vững vị thế là thương hiệu sữa hàng đầu tại Việt Nam và xếp thứ 36 toàn cầu (2024).
Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

4 ngành hàng chính là sữa nước, sữa trẻ em, sữa chua, sữa đặc chiếm hơn 90% trong tiêu thụ sản phẩm sữa của người Việt Nam (theo Euromonitor, 2024).

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)
 
Thị phần sữa nước: Tại thị trường nội địa, sữa nước là phân khúc đóng góp giá trị lớn nhất, với thị phần đạt 54.5%, bỏ xa các đối thủ như TH True Milk, Nutifood hay Dutch Lady (Euromonitor, 2024). Đây cũng là mảng mang lại doanh thu ổn định và biên lợi nhuận tốt nhờ quy mô tiêu thụ lớn ( các dòng sản phẩm cao cấp như Green Farm, HMO và Organic). Ở thị trường quốc tế, sữa nước vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu xuất khẩu do hạn chế về logistics và bảo quản lạnh.
 
Thị phần sữa bột: Sữa bột là ngành hàng cạnh tranh gay gắt nhất khi Vinamilk không chỉ đối đầu với các nhà sản xuất trong nước mà còn với các thương hiệu nhập khẩu như Abbott, FrieslandCampina, Nestle. Tại thị trường nội địa, Vinamilk giữ khoảng 40.6% thị phần, đứng trong nhóm dẫn đầu. Ở thị trường quốc tế, sữa bột là sản phẩm xuất khẩu chủ lực, chiếm tới 80% doanh thu sữa bột xuất khẩu tại Trung Đông, với Iraq là điểm đến lớn nhất.
 
Thị trường sữa chua: Vinamilk chiếm ưu thế tuyệt đối ở thị trường nội địa với thị phần sữa chua ước tính khoảng 80%, trở thành thương hiệu thống lĩnh gần như tuyệt đối. Đây là ngành hàng có mức tăng trưởng nhanh nhờ xu hướng tiêu dùng thực phẩm tốt cho sức khỏe, bổ sung lợi khuẩn. Ở xuất khẩu, sữa chua đóng góp tích cực tại các thị trường Đông Nam Á (Philippines, Campuchia) và hiện diện ở Mỹ, Nhật Bản với các sản phẩm ăn liền phù hợp vận chuyển.
 
Thị trường sữa đặc: Vinamilk chiếm 79.7% thị phần sữa đặc nội địa, chủ yếu nhờ thương hiệu Ông Thọ đã có lịch sử lâu đời và vị thế số 1 tại Việt Nam. Đây cũng là sản phẩm quan trọng trong mảng xuất khẩu: sữa đặc Vinamilk có mặt tại hơn 30 quốc gia, trong đó Trung Đông và châu Phi là các thị trường tiêu thụ lớn, gắn liền với thói quen sử dụng trong pha chế đồ uống và thực phẩm. Bên cạnh đó, sản phẩm này đã chính thức vào Trung Quốc từ năm 2021, mở ra triển vọng tăng trưởng mới.
Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)
2. Chuỗi giá trị VNM
Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)
🐄 Trang trại và nguyên liệu

Trang trại: Theo Báo cáo thường niên 2024, đàn bò của Vinamilk (VNM) đạt khoảng 130.000 con, chiếm 39,4% tổng đàn bò sữa cả nước. Đàn bò của VNM bao gồm khoảng 40.000 con do Vinamilk và Mộc Châu Milk (MCM) trực tiếp quản lý và khoảng 90.000 con do Vinamilk ký hợp đồng hợp tác với các hộ nông dân chăn nuôi bò sữa để thu mua sữa tươi nguyên liệu.

Mô tả hình 1
Mô tả hình 2

Trong các doanh nghiệp sản xuất sữa lớn tại Việt Nam, TH True Milk và Nutifood là đối thủ cạnh tranh của VNM có sở hữu trang trại bò sữa chăn nuôi tập trung. Trong đó, trang trại của TH True Milk khoảng 40,000 con (trong đó có khoảng 20,000 con đang vắt sữa) - quy mô lớn nhất và cạnh tranh trực tiếp với VNM. Nutifood – NutiMilk Gia Lai với khoảng 12,000 con; sản lượng trên 200 tấn/ngày (ước tính 64,000 tấn/năm).

Nhìn chung, năng suất đàn bò của Vinamilk trong các trang trại cao gần gấp 2 lần so với liên kết với nông dân và trung bình của cả nước. Năng suất cao tại trang trại của VNM chủ yếu đến từ:

 
(1) gia tăng nhập khẩu giống bò sữa từ các quốc gia có năng suất sữa cao như New Zealand
 
(2) bò sữa được chăm sóc với chế độ đặc biệt nhờ công nghệ tiên tiến và các yếu tố phúc lợi động vật.

Nhập khẩu nguyên liệu: Mặt khác, sản xuất sữa trong nước hiện chỉ đáp ứng được 40-50% nhu cầu sữa trong nước. Do đó, để áp ứng nhu cầu sữa trong nước cùng sản xuất sản phẩm sữa bột và sữa dinh dưỡng, VNM nhập khẩu thêm các nguyên liệu gồm sữa bột nguyên kem (WMP), bột sữa tách béo (SMP) và bột béo từ các quốc gia như Mỹ, châu Âu và New Zealand.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)
🏪 Hệ thống phân phối

Vào đầu năm 2025, Vinamilk vận hành mô hình đa kênh (omni-channel) gồm:

 
(i) kênh truyền thống (GT) – mạng lưới nhà phân phối B2B phủ tới khoảng 250,000 điểm bán lẻ (tạp hóa/chợ) trên 34 tỉnh thành;
 
(ii) kênh hiện đại (MT) – chuỗi siêu thị và cửa hàng tiện lợi lớn (Co.opmart, WinMart, Bách Hóa Xanh…)
 
(iii) kênh khách hàng lớn (key accounts) – trường học, bệnh viện, nhà hàng, nhà máy;
 
(iv) chuỗi bán lẻ do Vinamilk sở hữu – hệ thống cửa hàng "Giấc mơ Sữa Việt/Vinamilk"
 
(iv) thương mại điện tử – website chính thức cùng các gian hàng "official mall" trên Shopee, Lazada, TikTok Shop.

Số liệu cập nhật mới nhất cho thấy có hơn 220 nhà phân phối B2B và gần 250,000 điểm bán, chuỗi bán lẻ tự vận hành khoảng 618 cửa hàng, phản ánh quy mô quanh mức 600+ cửa hàng vào cuối 2024. Trong năm 2025, VNM hướng đến con số cửa hàng bán lẻ vận hành là 800.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Trong giai đoạn 2025 – 2027, Vinamilk đang tiến hành một cuộc chuyển mình mạnh mẽ trong hệ thống phân phối để thích ứng với xu hướng tiêu dùng hiện đại và mở ra chu kỳ tăng trưởng mới. Trọng tâm của chiến lược là phát triển mô hình bán lẻ trực tiếp đến người tiêu dùng (D2C – Vinamilk Store), cho phép doanh nghiệp kiểm soát trải nghiệm khách hàng tốt hơn, gia tăng biên lợi nhuận nhờ loại bỏ khâu trung gian, đồng thời xây dựng hệ sinh thái thương hiệu và thu thập dữ liệu để cá nhân hóa dịch vụ.

🌏 Thị trường xuất khẩu

Các thị trường xuất khẩu chủ lực:

 
Trung Đông: Iraq là thị trường truyền thống và xuất khẩu trực tiếp lớn nhất (Bán qua đại lý) - chiếm 80% thị phần sữa bột, thường đóng góp khoảng 70% - 75% tổng doanh thu xuất khẩu trực tiếp của tập đoàn. Vinamilk đã có mặt tại đây từ năm 1997.
 
Campuchia: Thị trường Xuất khẩu trực tiếp và Sản xuất tại chỗ thông qua Công ty con (AngkorMilk). Nhà máy Angkor Milk khánh thành tại Campuchia năm 2016 (Thông thường một nhà máy sữa mất khoảng 5-7 năm để đạt điểm huề vốn). Với việc doanh thu tại Campuchia tăng trưởng ổn định (17-47%) và đạt mức khoảng 4.000 tỷ đồng/năm ( gồm doanh thu tại chỗ của Angkor Milk & Doanh thu xuất khẩu trực tiếp) thì nước này đóng góp khoảng 35% - 37% tổng doanh thu thị trường nước ngoài, tương đương với tỷ trọng đóng góp của thị trường Iraq. Vinamilk đang thực hiện chiến lược nội địa hóa sản xuất để từng bước thay thế hàng nhập khẩu từ Thái Lan với mục tiêu 90 triệu lít/năm.
 
Mỹ: Vận hành tại chỗ qua Driftwood (công ty con do Vinamilk sở hữu 100%), đóng góp khoảng 3.100 - 3.300 tỷ đồng/năm, chiếm tỷ trọng gần 30% cơ cấu doanh thu thị trường quốc tế. Mặc dù đã thâm nhập thị trường từ năm 2013 và nắm toàn quyền sở hữu từ năm 2016, tốc độ tăng trưởng tại đây thường duy trì ở mức ổn định (dưới 5%) do Mỹ là thị trường đã bão hòa và có sự cạnh tranh khốc liệt từ các tập đoàn sữa toàn cầu. Tuy nhiên, Driftwood đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Vinamilk tiếp cận công nghệ sản xuất hiện đại và là 'tấm giấy thông hành' khẳng định chất lượng sản phẩm tại các thị trường khó tính nhất.
 
Trung Quốc: Thị trường Xuất khẩu trực tiếp nhằm tối ưu hóa công suất sản xuất tại Việt Nam. Với sự "mở đường" của sữa đặc Ông Thọ từ năm 2021 thông qua chuỗi siêu thị Guangzhou Marketside (Quảng Châu) và các sàn thương mại điện tử, các sản phẩm sữa của Vinamilk đã dần khẳng định được vị thế. Gần đây nhất, việc được cấp phép xuất khẩu sữa đặc Ngôi Sao Phương Nam đã tạo ra bước ngoặt mới. Với lợi thế giá thành cạnh tranh sản phẩm này tập trung đánh vào phân khúc nguyên liệu pha chế cho các chuỗi trà sữa, cà phê và ngành thực phẩm (B2B), nhằm lấp đầy khoảng trống về nhu cầu sữa đặc giá tốt nhưng vẫn đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế mà các thương hiệu nội địa Trung Quốc chưa đáp ứng tối ưu.

Ngoài ra, Tính đến hết năm 2024, Vinamilk đã phát triển danh mục sản phẩm xuất khẩu bao gồm gần 400 mã hàng xuất khẩu lũy kế đến 65 quốc gia, khởi đầu từ dòng sữa bột trẻ em Dielac và mở rộng ra nhiều sản phẩm như sữa đặc, sữa chua, sữa tươi, sữa uống Probi, và cả nước dừa đóng chai Cocofresh.

3. Hoạt động kinh doanh
💰 Cơ cấu Doanh thu

Doanh thu Vinamilk tăng khoảng 7.2% trong 5 năm qua với khoảng 84% đóng góp từ nội địa và khoảng 16% là doanh thu từ nước ngoài (xuất khẩu và doanh thu tại các chi nhánh nước ngoài).

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Trong đó, doanh thu xuất khẩu chủ yếu là các đơn hàng sữa bột trẻ em tại thị trường Trung Đông, sữa đặc tại thị trường Trung Quốc và các sản phẩm sữa đặc, sữa chua, sữa tươi tại thị trường châu Á. Bên cạnh đó, doanh thu các chi nhánh nước ngoài gồm Driftwood – Hoa Kỳ, Angkormilk – Campuchia và Liên doanh Del Monte – Vinamilk – Phillipines cũng chiếm gần 50% tổng doanh thu nước ngoài.

Mô tả hình 1
Mô tả hình 2

Nhìn chung, doanh thu nội địa ổn định trong khi doanh thu nước ngoài chủ yếu đến từ các thị trường, đối tác lớn và lâu năm của doanh nghiệp.

📊 Cơ cấu chi phí

Chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu chi phí hoạt động của Vinamilk là chi phí nguyên vật liệu (54%), tiếp đến là chi phí bán hàng (26%). Vinamilk thường chốt trước nguyên liệu từ 3-6 tháng, tuy vậy, giá nguyên vật liệu đạt đỉnh năm 2022 cũng khiến biên gộp của doanh nghiệp giảm nhẹ.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Chi phí bán hàng luôn chiếm tỷ trọng cao trong cấu thành chi phí hoạt động cho thấy mức độ cạnh tranh của ngành sữa tại Việt Nam khi các doanh nghiệp phải gia tăng chi phí bán hàng nhằm gia tăng nhận diện thương hiệu và giữ vững thị phần.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)
4. Cơ cấu cổ đông

Cổ đông lớn nhất của VNM hiện nay là Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) với tỷ lệ nắm giữ 36,0%. Tiếp đến là F&N Dairy (trụ sở tại Singapore, hoạt động chính trong lĩnh vực thực phẩm – đồ uống) sở hữu 17,7% và quỹ Platinum Victory (Singapore) nắm giữ 10,6%.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)
⚠️ YẾU TỐ RỦI RO CẦN LƯU Ý
1. Rủi ro phụ thuộc nguyên vật liệu nhập khẩu

Do nhiều hạn chế về quy mô đàn bò và khí hậu, nguồn sữa trong nước không đủ để đáp ứng nhu cầu nội địa. Các doanh nghiệp sản xuất sữa ở Việt Nam vẫn phải nhập thêm các nguyên liệu như bột sữa và kem béo từ nước ngoài, khiến biên lợi nhuận chịu ảnh hưởng bởi biến động của giá các nguyên vật liệu này trên thị trường thế giới. Ngoài ra, VN cũng nhập khẩu thêm sữa ngoại để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.

Các thị trường nhập khẩu chính là New Zealand, Úc, Ireland và Mỹ. Trong đó, New Zealand là thị trường nhập khẩu lớn nhất với tỷ lệ 34% trong nửa đầu năm 2025.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

VNM nhập khẩu các nguyên liệu gồm sữa bột nguyên kem (WMP), bột sữa tách béo (SMP) và bột béo từ các quốc gia như Mỹ, châu Âu và New Zealand. Vì vậy, biên lợi nhuận cũng chịu ảnh hưởng bởi biến động của giá các nguyên vật liệu nhập khẩu từ các quốc gia này.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)
2. Rủi ro tỷ lệ sinh giảm và hạn chế trong quảng cáo cho trẻ dưới 2 tuổi

Tiêu thụ sữa trẻ em chiếm 24% tổng tiêu thụ sữa và các sản phẩm từ sữa. Tuy nhiên, mức độ cạnh tranh trong mảng sữa trẻ em giữa các doanh nghiệp gay gắt nhất khi:

 
(1) tỷ lệ sinh tại Việt Nam giảm từ 2.12 trẻ/phụ nữ (năm 2020) xuống 1.91 trẻ/phụ nữ (2024) khiến nhu cầu tiêu thụ sữa trẻ em giảm tốc
 
(2) xu hướng chi tiêu các sản phẩm cao cấp cho trẻ tăng cao trong khi đó các doanh nghiệp sữa ngoại có lợi thế về thương hiệu hơn.

Có thể thấy, doanh nghiệp sữa ngoại đang chiếm thị phần cao hơn so với doanh nghiệp sữa nội là Vinamilk.

Thêm vào đó, Luật Quảng cáo năm 2018 cấm việc quảng cáo sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, sản phẩm dinh dưỡng bổ sung dùng cho trẻ dưới 06 tháng tuổi. Điều này góp phần giới hạn việc tiếp cận của doanh nghiệp sữa nội trong mảng sữa trẻ em.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)
3. Tốc độ phục hồi tiêu dùng yếu hơn dự kiến

Theo ước tính của Euromonitor, doanh số thị trường sữa Việt Nam 2024 đạt 144,062 tỷ đồng, trong đó sữa chiếm tỷ trọng lớn nhất 73%, theo sau là sữa và đồ ăn trẻ em và sữa thực vật, chiếm lần lượt 24% và 4%. Quy mô của sữa thực vật tuy còn khá nhỏ nhưng là một phân khúc đầy tiềm năng khi nhu cầu về thực phẩm lành mạnh tăng lên cũng như thị trường ăn chay đang tăng trưởng nhanh chóng. Dự phóng mới nhất của Euromonitor cho rằng thị trường sữa nói chung sẽ tăng trưởng với CAGR=3% trong giai đoạn 2025–2029.

Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Tuy nhiên, Tình hình mưa bão, lũ lụt diễn biến phức tạp có thể sẽ ảnh hưởng tới doanh số bán hàng của VNM trong Q4.2025. Ngành hàng tiêu dùng nhanh có thể chịu tác động trong ngắn hạn do gián đoạn hệ thống phân phối và sức mua giảm.

Lượng sữa có dấu hiệu giảm từ tháng 5 và tăng trưởng ngành FMCG đã giảm trong tháng 6. Tuy nhiên, các sản phẩm mới của VNM được đón nhận khá tốt với doanh số quý 2 cao kỷ lục, kỳ vọng đóng góp đáng kể vào tăng trưởng trong thời gian tới.

KHUYẾN NGHỊ ĐẦU TƯ
1. Giá mục tiêu năm 2026: 72.364 VND
Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Kết quả kinh doanh Q3 của VNM nhìn chung khá tích cực dù mức tăng trưởng một phần đến từ mức nền thấp của quý trước, chúng tôi kỳ vọng đà tăng trưởng này có thể duy trì thêm 1-2 quý nữa nhờ thị trường xuất khẩu tăng tốc và độ phủ của kênh bán lẻ hiện đại mở rộng. Tuy nhiên, đà tăng trưởng bền vững vẫn phụ thuộc vào sự phục hồi của kênh thương mại truyền thống và chi phí nguyên liệu hạ nhiệt.

2. Phương pháp định giá
Biểu đồ: Doanh thu thuần (Q) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (Q)

Tại mức giá 61.000 đồng/cp, cổ phiếu VNM đang giao dịch ở mức P/E 14,17x, P/B là 3.82x. Ước tính giá mục tiêu năm 2025 là 64.325 đồng/cp, dựa trên phương pháp định giá kết hợp P/E14.x lần và P/B 4.x lần tỷ trọng 80:20 và duy trì khuyến nghị TRUNG LẬP (tương ứng tiềm năng tăng giá là 5,5% và tỷ suất cổ tức 7,5%).

Ước tính năm 2025 doanh thu đạt 62 nghìn tỷ đồng (+0,5% svck) và LNST đạt 9 nghìn tỷ đồng (-4,8% svck), tương đương 93% kế hoạch năm của công ty. Tuy nhiên, do nền thấp của Q4/2024, LNST Q4/2025 dự kiến sẽ tăng svck. Bước sang năm 2026, dự phóng doanh thu đạt 64 nghìn tỷ đồng (+4% svck) và LNST đạt 9,8 nghìn tỷ đồng (+8,9% svck).

Ước tính giá mục tiêu năm 2026F là 72.364 đồng/cp, dựa trên phương pháp định giá kết hợp P/B 4.x lần và P/E14.x lần và khuyến nghị MUA (tương ứng tiềm năng tăng giá là 18,6% và tỷ suất cổ tức 7,5%). Nhà đầu tư có thể tích lũy cổ phiếu khi giá điều chỉnh hoặc khi xu hướng tăng trưởng tại thị trường nội địa rõ ràng hơn.

Giá mục tiêu 2026
72.364 VND
Khuyến nghị: MUA
Tiềm năng tăng giá: 18.6% | Tỷ suất cổ tức: 7.5%
TUYÊN BỐ MIỄN TRỪ TRÁCH NHIỆM

Các thông tin và nhận định trong báo cáo này được cung cấp bởi chuyên viên tư vấn đầu tư dựa vào các nguồn thông tin mà chuyên viên coi là đáng tin cậy, có sẵn và mang tính hợp pháp. Tuy nhiên, chúng tôi không đảm bảo tính chính xác hay đầy đủ của các thông tin này.

Nhà đầu tư sử dụng báo cáo này cần lưu ý rằng các nhận định trong báo cáo này mang tính chất chủ quan của chuyên viên phân tích. Nhà đầu tư sử dụng báo cáo này tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Chuyên viên tư vấn đầu tư có thể dựa vào các thông tin trong báo cáo này và các thông tin khác để ra quyết định đầu tư của mình mà không bị phụ thuộc vào bất kì ràng buộc nào về mặt pháp lý đối với các thông tin đưa ra.